Tuy nhiên, điểm sáng ở Kon Tum trong việc thực hành chính sách chi trả DVMTR chính là việc chi trả cho các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn, bản. Năm 2013, quỹ tỉnh cũng mới thu được tiền từ 14/19 cơ sở thủy điện.
Ư cho thích hợp với điều kiện thực tại của địa phương nhằm giải ngân đầy đủ, kịp thời tiền DVMTR đến từng chủ rừng, các hộ gia đình, cá nhân chủ nghĩa nhận giao khoán bảo vệ rừng. Còn đối với các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân thì số tiền chi trả chính là động lực để họ cải thiện cuộc sống, từ đó nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng.
Hệ quả của sự lúng túng này là tính đến hết ngày 15-5-2013, tổng số tiền tạm ứng cho các đơn vị chủ rừng là tổ chức trên địa bàn toàn tỉnh Kon Tum là hơn 34 tỷ đồng nhưng số tiền được dùng mới chỉ đạt con số khoảng 10 tỷ đồng. Nên đề nghị đặt ra hiện là cần sự quyết liệt vào cuộc của chính quyền các địa phương trong công tác triển khai thực hành chính sách chi trả DVMTR. Bởi lẽ, mức trả 200 nghìn đồng/ha/năm theo các dự án từ ngân sách Nhà nước bây chừ là mức tương trợ.
Chính thành thử, các khoản chi cho cán bộ và các hộ giao khoán trong năm 2011, năm 2012 đều đã thực hành trong khoản kinh phí ngân sách quốc gia cấp. Chính nên chi khi chính sách chi trả DVMTR ra đời, chúng tôi mừng lắm. Hơn thế, mặc dầu chính sách chi trả DVMTR được coi là "cứu cánh" cho các doanh nghiệp lâm nghiệp trong thời khắc khó khăn về kinh phí hoạt động hiện thời, nhưng Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Kon Rẫy hiện cũng chưa biết cách sử dụng nguồn tiền từ DVMTR vào việc gì cho hợp lý và đúng quy định.
Song song có hướng dẫn về nghĩa vụ chi trả thuộc về ai trong trường hợp các cơ sở thủy điện bán điện cho điện lực miền trung theo giá thỏa thuận? Theo Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đác Lắc Kiều Thanh Hà thì cần nâng mức xử phạt đối với các nhà máy thủy điện nộp chậm, cụ thể là xử phạt theo lãi suất vay cơ bản tại thời khắc nhà băng Nhà nước công bố.
Có thể nói, chi trả DVMTR là một chính sách khôn xiết ý nghĩa trong bối cảnh hiện giờ. 718 ha, diện tích giao khoán bảo vệ rừng vào khoảng hơn một nghìn ha với hơn 60 hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số. Trồng mì được 30 triệu đồng/năm cơ đấy cán bộ ạ. Có như thế chính sách mới lâu dài và vững bền được.
Tôi hỏi: Với mức thu nhập sáu triệu đồng/năm cho công tác bảo vệ và quản lý 30 ha rừng, liệu gia đình anh có đủ sống không? Anh rụt rè trả lời bằng tiếng Kinh không rõ lắm: Không đủ sống đâu, nhưng mình hên hơn vì còn được thêm tiền hàng tháng nhờ tham dự giúp Ban quản lý bảo vệ rừng vào mùa khô.
Có tiền mà không tiêu được Chạy xe từ đô thị Plây Cu, tỉnh Gia Lai đến Ban quản lý rừng phòng hộ (RPH) Ia Ly, suốt chặng đường đi là mầu xanh của núi, của rừng. 562 ha. Nhưng về lâu dài, cũng cần phải đặt vấn đề đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân hiểu rõ chính sách chi trả DVMTR được vận hành theo cơ chế thị trường giữa các đơn vị vỡ hoang thủy điện, nước sinh hoạt, kinh dinh du lịch với các chủ rừng, người trồng và coi sóc bảo vệ rừng.
Chúng tôi gặp anh Siu Kok ở làng Yok 1, xã Yaka, huyện Chư Pả. Đây là cơ sở để các chủ rừng là tổ chức chủ động lập mưu hoạch và thực hành chi trả tiền cho các hộ gia đình nhận giao khoán đồng thời có kế hoạch chi quản lý, bảo vệ rừng cho đơn vị mình.
Trong đợt chi trả tạm ứng lần 1, anh Danh (thôn Long Leo, xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông) nhận được số tiền hơn 3,3 triệu đồng. Còn tại Tây Nguyên, sự lúng túng lại phát sinh can hệ tới việc chưa hoàn toàn hiểu rõ các quy định, hướng dẫn về cơ chế quản lý sử dụng tiền chi trả DVMTR và chậm phê duyệt kế hoạch thu - chi.
Trong đó, huyện Tu Mơ Rông có diện tích rừng cung ứng lớn nhất, đạt 7. Như vậy với hộ gia đình có mức khoán cao nhất thì mỗi năm thu nhập từ nghề rừng cũng chỉ đạt sáu triệu đồng. Ngoài ra, trong quá trình thực thi chính sách còn xuất hiện thực trạng chênh lệch tiền chi trả cho các chủ rừng giữa các lưu vực tương đối lớn. Trong khi đó, anh Rơ Chăm Pim (làng Dút 2, xã YaKreng) chính trực: Sáu triệu đồng đủ sống sao được cán bộ ơi, nhà mình phải trồng mì thì mới có tiền cho hai con đi học chứ.
Để giải quyết vấn đề này, Kon Tum và Đác Lắc đang thực hành cơ chế chi trả bình quân cho các chủ rừng. Tổ chức, cá nhân chủ nghĩa nào cung ứng nhiều dịch vụ sẽ được nhận chi trả nhiều và ngược lại. Khi có thêm khoản tiền từ DVMTR thì quờ các đơn vị đều lúng túng trong việc lập mưu hoạch thu - chi. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này chúng tôi vẫn chưa thực hiện chi trả được tới các hộ gia đình dù rằng quỹ hiện có 1,8 tỷ đồng từ tạm ứng năm 2012.
Tình trạng này đang diễn ra ở cả ba tỉnh Tây Nguyên là Gia Lai, Kon Tum và Đác Lắc.
Tuy nhiên, cũng giống Gia Lai và Kon Tum, tỷ lệ giải ngân của các đơn vị chủ rừng là tổ chức vẫn ở mức hạn chế, nhất là công tác chi trả tiền cho các hộ dân nhận giao khoán quản lý, bảo vệ rừng.
Trước thực trạng này, Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam Phạm Hồng Lượng cho rằng: Các chủ rừng là tổ chức hiện chưa hiểu rõ cơ chế quản lý dùng nguồn tiền từ chính sách chi trả DVMTR. Hiện Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đang đề nghị UBND tỉnh cho chi tạm ứng năm 2012 (lần 2) số tiền hơn 3,5 tỷ đồng. Thực tế giải ngân chậm tại các đơn vị chủ rừng là tổ chức không chỉ diễn ra ở Gia Lai mà tỉnh Kon Tum cũng rơi vào tình trạng này.
RPH Ia Ly hiện có 11. Tổng diện tích cung ứng DVMTR của các đơn vị này là hơn 17 nghìn ha rừng, đơn giá tạm ứng 150 nghìn đồng/ ha/năm, tương ứng số tiền tạm ứng DVMTR (lần 1) năm 2012 đã giải ngân đạt gần 2,6 tỷ đồng.
Nguyên nhân là do đơn vị chủ rừng hầu hết là các tổ chức như Ban quản lý RPH, Vườn quốc gia, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp.
Theo xem, trong năm 2013, số tiền thu được từ DVMTR của RPH Ia Ly là 3,8 tỷ đồng, dự kiến mức chi trả sẽ vào khoảng gần 300 nghìn đồng/ha/năm. Như thế nguy cơ tác động xấu tới quá trình khai triển chính sách là điều rất dễ xảy ra.
Ư có hướng chỉ đạo, giải quyết cụ thể việc các cơ sở thủy điện chậm chi trả tiền DVMTR. Các địa phương yêu cầu Bộ, ngành T. Khác với cách làm của Gia Lai, Kon Tum, trong quá trình thực hành chính sách chi trả DVMTR, tỉnh Đác Lắc lấy tổng số tiền có trong quỹ chia cho diện tích rừng cung ứng, tính ra đơn giá cho một ha, từ đó chi trả tạm ứng cho các đơn vị. Cả anh Siu Kok và anh Rơ Chăm Pim đều cho biết có nghe nói về chính sách chi trả DVMTR và mong muốn sớm có tiền về với từng hộ gia đình để có điều kiện bảo vệ rừng tốt hơn nữa.
Bởi nếu không giải ngân được, các đơn vị dùng dịch vụ sẽ có cớ trì hoãn, thoái thác không tiếp chuyện trả tiền dịch vụ.
Còn Gia Lai có cách làm khác là đối với lưu vực có mức chi trả dưới 200 nghìn đồng/ha/năm, UBND tỉnh cho phép dùng nguồn quỹ đề phòng của quỹ tỉnh để tương trợ cho hộ nhận khoán đạt mức 200 nghìn đồng/ha/năm. Mức giao khoán bây chừ là không quá 30 ha/hộ, kinh phí tương trợ từ ngân sách quốc gia cho bảo vệ rừng là 200 nghìn đồng/ha/năm.
Có như thế mới "thúc" các nhà máy thủy điện chấp hành nghiêm trang chính sách chi trả DVMTR. Đây chính là "lối thoát" trong việc huy động nguồn lực tài chính ngoài ngân sách Nhà nước cho các chủ rừng là tổ chức.
Do đó, nguồn tiền DVMTR là nguồn bổ sung cho các hoạt động phục vụ quản lý, bảo vệ rừng nhằm cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ chứ không thay thế nguồn ngân sách Nhà nước. Vẫn biết còn một số vướng mắc cả từ chủ quan và khách quan, nhưng nếu được sự đồng thuận và chỉ đạo khai triển quyết liệt của các cấp chính quyền địa phương từ tỉnh đến huyện, xã thì chắc chắc chính sách sẽ sớm phát huy hiệu quả trong thời gian tới.
Tuy nhiên với cách này, về lâu dài có một điểm khó là làm sao để bảo đảm nguồn kinh phí bổ sung nếu mở rộng diện tích khoán tại những lưu vực có mức chi trả thấp? Theo Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam Phạm Hồng Lượng thì: Giải quyết theo cách chi trả bình quân cho các chủ rừng trong các lưu vực sông chính hay dùng nguồn quỹ phòng ngừa chi trả bổ sung bảo đảm không thấp hơn 200 nghìn đồng/ha đều là những cách làm sáng tạo và phù hợp trong từng điều kiện, từng cảnh ngộ đối với mỗi địa phương.
Ngoài ra, còn tùng tiệm một phần để cải thiện cuộc sống, lo cho con cái học hành thêm.
Những đơn vị này từ trước tới nay hoạt động dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước với các chương trình, dự án bảo vệ và phát triển rừng. Chính vì ý nghĩa to lớn đó mà đề nghị đặt ra đối với các tỉnh Tây Nguyên hiện thời là sớm duyệt y kế hoạch thu - chi, đẩy mạnh việc tuyên truyền triển khai thực thi chính sách, nhất là việc cụ thể hóa các quy định, hướng dẫn của các Bộ, ngành T.
Liên can với anh được biết, số tiền này gia đình dành vào việc bảo vệ, phát triển rừng. Ông Lượng nhấn mạnh: Việc nắm rõ cơ chế quản lý dùng tiền chi trả và khẩn trương lập và trình duyệt y kế hoạch thu chi hợp lý để đẩy mạnh tốc độ giải ngân tới các đối tượng được thụ hưởng chính sách là việc làm khôn cùng quan yếu.
Tại Gia Lai, năm 2011, 2012, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh mới thu được tiền dịch vụ từ ba nhà máy thủy điện (chiếm 46%), các nhà máy thủy điện còn lại (không thuộc EVN) vẫn chưa thu được (chiếm tới 54%). Hiện nay, với tổng quỹ hơn 35 tỷ đồng, năm 2013, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã giải ngân xuống các đơn vị chủ rừng được hơn 22 tỷ đồng với đơn giá chi trả 150 nghìn đồng/ha.
Kết quả là tiền dịch vụ đã nhận về nhưng các chủ rừng lại không giải ngân được. Bổn phận đó không chỉ thuộc về đơn vị hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực này là Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng địa phương mà còn là nghĩa vụ chỉ đạo của UBND tỉnh, sự kết hợp chém đẹp của các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các sở, ban, ngành trong tỉnh. Để chính sách sớm đi vào cuộc sống Với các tỉnh miền núi Tây Bắc, khó khăn của việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR đốn nằm ở khâu thẩm tra, xác định ranh giới diện tích rừng đến từng chủ rừng.
Anh cũng tỏ bày, với chính sách chi trả này, hầu hết các hộ dân đều hào hứng hơn và có bổn phận hơn với công tác bảo vệ rừng. Anh nhận giao khoán 30 ha rừng từ năm 1998 đến nay với mức tương trợ là 200 nghìn đồng/ha. Hàng năm anh còn cùng Ban quản lý RPH tham dự vào công tác phòng chống cháy rừng mùa khô.
Còn chính sách chi trả DVMTR là biểu đạt mối quan hệ kinh tế, đơn vị nhận dịch vụ cung ứng phải trả tiền cho đơn vị cung ứng.
Không chỉ vướng trong giải ngân, hiện một số tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Đác Lắc còn gặp khó khăn trong vấn đề thu tiền DVMTR đối với các cơ sở thủy điện nội tỉnh. Bởi với mức tương trợ bảo vệ rừng từ ngân sách Nhà nước hiện là 200 nghìn đồng/ha/năm còn thấp, không tạo ra động lực, điều kiện tiện lợi cho các hộ dân phát huy khả năng bảo vệ rừng.
Năm 2013, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Rẫy đã nhận số tiền tạm ứng DVMTR là hơn 4,1 tỷ đồng nhưng đến nay vẫn chưa thực hành chi trả được cho bất kỳ một hộ nhận giao khoán nào. Trưởng ban quản lý Tưởng Phúc cho chúng tôi biết: Với mức thu nhập như thế người dân kiên cố không thể sống được bằng nghề rừng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét